Kinh tế thị trường là gì ? Phân tích ưu điểm, nhược điểm của kinh tế thị trường

1. Kinh tế thị trường là gì?

Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế trong đó các thành phần kinh tế, các chế độ sở hữu khác nhau tham gia, luân chuyển và phát triển cùng nhau trong cơ chế cạnh tranh bình đẳng và ổn định.

Trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế thị trường. Theo quan điểm của xmit (Ađam Smith), sử dụng lý thuyết “bàn tay vô hình”, kinh tế thị trường là nền kinh tế tự điều chỉnh, vận hành theo quy luật thị trường, ít có sự can thiệp của nhà nước. Kinh tế thị trường được hiểu ở góc độ khác là sự can thiệp trực tiếp của “bàn tay hữu hình” của nhà nước, đánh đồng lý thuyết này với “lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ”.

Việt Nam đang xây dựng và phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa kể từ khi Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (cpv 4986) chính thức công nhận Hiến pháp và các văn kiện của Đảng và Nhà nước năm 1992. Phát triển kinh tế từ cơ chế cũ – cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp trước đây, với hai thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể (kinh tế tư bản chủ nghĩa, kinh tế tư nhân không được kế thừa). Cho đến nay, trong nền kinh tế Việt Nam có nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển với các hình thức sở hữu khác nhau, đặc biệt là sự có mặt của các nhà tư bản nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam. Nhà nước Việt Nam khuyến khích và đảm bảo cho các thành phần kinh tế có cơ hội cùng nhau phát triển trong môi trường cạnh tranh lành mạnh thông qua hệ thống luật pháp và chính sách.

Bạn đang xem: Kinh tế thị trường là gì?

2. Lợi thế của kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, nếu cầu về hàng hóa lớn hơn cung thì giá cả hàng hóa đó sẽ tăng lên và lợi nhuận sẽ tăng lên, thúc đẩy người sản xuất tăng lượng cung. Các nhà sản xuất có cơ chế sản xuất hiệu quả hơn cũng có tỷ suất lợi nhuận cao hơn, cho phép họ mở rộng quy mô sản xuất để các nguồn lực sản xuất sẽ chuyển đến các nhà sản xuất hiệu quả. Những người sản xuất có cơ chế sản xuất kém hiệu quả có tỷ suất lợi nhuận thấp, khả năng thu mua tài nguyên sản xuất thấp, sức cạnh tranh kém sẽ bị đào thải. Vì vậy, nền kinh tế thị trường tạo ra động lực thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới và phát triển, vì muốn cạnh tranh và đáp ứng được nhu cầu thị trường thì doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất, quản lý và sản phẩm.

Trong nền kinh tế thị trường, mọi người luôn tìm cách cải tiến cách làm việc và tích lũy nhiều kinh nghiệm cho bản thân. Kinh tế thị trường là nơi phát hiện, đào tạo, tuyển dụng và thuê những người có năng lực, cải tiến quy trình quản lý kinh doanh, loại bỏ những cán bộ quản lý kém hiệu quả.

Nền kinh tế thị trường hình thành xu hướng liên doanh, liên kết thúc đẩy giao lưu kinh tế, các nước đang phát triển có cơ hội tiếp xúc, chuyển giao công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý của các nước phát triển để thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế của mình. Trong thương mại quốc tế, mức độ thị trường hóa của nền kinh tế có thể được sử dụng như một tiêu chí để xác định các điều khoản thương mại giữa hai bên.

Xem thêm: Hướng Dẫn Chơi Kuro Douji (Hắc Đồng Tử) – Âm Dương Sư

Các nền kinh tế thị trường có xu hướng cung cấp nhiều cơ hội việc làm hơn. Ví dụ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 99,7% tổng số doanh nghiệp ở Hoa Kỳ, và các doanh nghiệp có ít hơn 20 nhân viên ở Hoa Kỳ chiếm 89,6% lực lượng lao động của cả nước. Trong nền kinh tế thị trường, việc tập trung vào đổi mới cho phép các doanh nghiệp nhỏ này tìm kiếm các thị trường thích hợp và cung cấp các công việc được trả lương cao tại địa phương.

3. Nhược điểm của kinh tế thị trường

Cơ chế phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế thị trường có thể dẫn đến sự bất bình đẳng về nhận thức và xã hội. Người giàu sẽ sử dụng tài sản của họ để ngày càng có nhiều của cải và quyền lực, còn người nghèo sẽ ngày càng nghèo hơn. Điều này cuối cùng sẽ dẫn đến sự phân chia giai cấp: một số nhỏ những người giàu có nắm quyền cai trị xã hội, trong khi phần lớn là những người nghèo khó đang gặp khó khăn. Sự chênh lệch lớn giữa người giàu và người nghèo tạo ra nguy cơ bất ổn xã hội khi người nghèo đấu tranh để có một cuộc sống tốt hơn (đôi khi có bạo loạn và lật đổ).

Sau một thời gian cạnh tranh “cá lớn nuốt cá bé”, các nhà sản xuất nhỏ sẽ bị các nhà sản xuất lớn hơn và mạnh hơn tiếp quản. Cuối cùng, sẽ chỉ còn lại một số ông lớn với tiềm lực to lớn, những người sẽ chi phối phần lớn nền kinh tế, và toàn bộ nền kinh tế sẽ bị thao túng bởi một vài ông trùm. Nền kinh tế thị trường sẽ chuyển dần thành nền kinh tế độc quyền thống trị. Doanh nghiệp độc quyền không có đối thủ cạnh tranh, tự ý chiếm lĩnh thị trường, nếu nhà nước không can thiệp thì cố tình tăng giá, giảm chất lượng sản phẩm để tăng lợi nhuận, gây thiệt hại cho xã hội, hiệp hội và người tiêu dùng.

Để theo đuổi lợi nhuận, các công ty sẽ đầu tư mở rộng sản xuất, điều này sớm muộn sẽ dẫn đến sự mất cân đối giữa cung và cầu. Trong giai đoạn đầu, các công ty đầu tư phát triển sản xuất khiến cung tăng mạnh, trong khi cầu tăng không cân đối so với cung. Hiện tượng tích tụ này trong nhiều năm có thể dẫn đến khủng hoảng thừa khả năng: hàng hóa đình trệ, giá cả giảm, do không bán được hàng để bù đắp chi phí đầu tư nên nhiều doanh nghiệp phá sản dẫn đến nền kinh tế khủng hoảng. Cuộc Đại suy thoái ở Hoa Kỳ năm 1929 là kết quả của việc sản xuất quá mức trong những năm 1920 mà không có sự điều tiết thích hợp của chính phủ.

Xem thêm: Tư duy là gì? Đặc điểm của tư duy? Vai trò của tư duy?

Chưa kể đến những sai sót và thiếu sót thông tin có thể dẫn đến việc phân bổ tài nguyên không hiệu quả. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, giá cả có thể không linh hoạt trong ngắn hạn, cung cầu không điều chỉnh nhịp nhàng dẫn đến chênh lệch giữa tổng cung và tổng cầu. Đây là lý do dẫn đến thất nghiệp và lạm phát.

Trong một số trường hợp, thị trường tự do đi ngược lại lợi ích chung của xã hội. Quá coi trọng thị trường mà không có sự giám sát của nhà nước sẽ tạo cơ hội cho sự ích kỷ cá nhân, vụ lợi cá nhân, vô cảm với xã hội, nhất là trong hoàn cảnh khó khăn, một số người sẵn sàng gây hại cho xã hội vì lòng tham lợi nhuận. Ví dụ: vùng dịch bệnh nên thiếu thuốc, nếu nhà nước không can thiệp (định giá tối đa, cấm đầu cơ, găm hàng) thì người kinh doanh thuốc sẽ nhân cơ hội để đẩy giá bán lên cao. Hầu hết những người nghèo sẽ không có khả năng mua thuốc và sẽ phải chết vì căn bệnh này. Hoặc thị trường sản xuất phim, ca nhạc và giải trí vì lợi nhuận nhưng có nội dung phản cảm, đồi trụy hoặc gây bất lợi cho xã hội.

Để cơ chế thị trường không có tác động tiêu cực đến cạnh tranh, phải đáp ứng các điều kiện sau: thị trường phải cạnh tranh hoàn toàn, thông tin minh bạch, không bị tác động từ bên ngoài, không mang tính đầu cơ, không vi phạm đạo đức kinh doanh và không né tránh, vân vân. Tuy nhiên, trên thực tế không một quốc gia nào có thể đáp ứng được những điều kiện này một cách hoàn hảo, vì vậy trong một số trường hợp, các cơ chế thị trường không thể phân bổ tối ưu các nguồn lực kinh tế, thậm chí dẫn đến khủng hoảng kinh tế hoặc nhân đạo. Sau đó, sẽ có thị trường thất bại. Một ví dụ điển hình là Hoa Kỳ: một quốc gia mà việc chăm sóc sức khỏe hoàn toàn do tư nhân kiểm soát, các bệnh viện và bác sĩ của họ đều đẳng cấp thế giới, nhưng Hoa Kỳ cũng có một số chi phí nằm viện đắt nhất trên thế giới. Nếu không có bảo hiểm y tế, bệnh nhân có thể tốn hàng trăm nghìn đô la cho mỗi lần điều trị, khiến những người có thu nhập thấp bị loại khỏi hệ thống y tế. Xét nghiệm y tế ở Hoa Kỳ không nằm dưới sự kiểm soát của quốc gia, cũng như quốc gia này không có hệ thống chăm sóc sức khỏe tập trung do chính phủ quản lý. Chính vì những điểm yếu này mà khi đại dịch covid-19 xảy ra, Mỹ đã trở thành quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất trên thế giới, với hàng chục triệu ca nhiễm trùng và hàng trăm nghìn ca tử vong

Trong điều kiện kinh tế thời chiến, kinh tế thị trường không hiệu quả bằng kinh tế kế hoạch. Khi chiến tranh xảy ra, kinh tế thị trường không cho phép tập trung nguồn lực và sức sản xuất vào mục tiêu quan trọng nhất là sản xuất quốc phòng (vì nhà sản xuất chỉ quan tâm đến lợi nhuận của bản thân). Họ vẫn sẽ tập trung vào sản xuất các mặt hàng khan hiếm như lương thực, thực phẩm. hàng tiêu dùng, thay vì ưu tiên sản xuất thiết bị quân sự). Thậm chí, một số nhà sản xuất còn đi ngược lại lợi ích quốc gia như bán vũ khí, bí mật kỹ thuật cho quốc gia thù địch, hoặc nhận hối lộ từ quốc gia thù địch để ngừng sản xuất các mặt hàng thiết yếu cho quốc gia đó. Vì vậy, trong trường hợp có chiến tranh, chính phủ thường chuyển sang nền kinh tế kế hoạch để ngăn chặn khủng hoảng xã hội, huy động thêm ngân sách để mở rộng quy mô quân đội, tập trung nguồn lực cho sản xuất quốc phòng và khôi phục trật tự kinh tế, xã hội. Ví dụ kinh điển là Hoa Kỳ: khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, nước này đã tạm ngừng một phần kinh tế thị trường và chuyển sang kinh tế thời chiến. Vào đỉnh điểm của Chiến tranh thế giới thứ hai, gần 40% GDP của Mỹ được sử dụng để tài trợ cho chiến tranh. Chính phủ ưu tiên sản xuất cho mục đích quân sự, và hầu như tất cả đầu vào (nguyên liệu thô, lao động) đều được phân bổ cho sản xuất chiến tranh. Nhiều hàng hóa được đấu giá với tem cố định, giá cả và tiền lương bị chính phủ kiểm soát, và việc sản xuất nhiều mặt hàng tiêu dùng bị cấm. Chính phủ Hoa Kỳ đã huy động một phần lớn lực lượng lao động tham gia quân đội. Các nước khác như Anh, Đức, Nhật, Ý… cũng thực hiện các chính sách tương tự.

Trong thực tế ngày nay, để hạn chế những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, không quốc gia nào có nền kinh tế thị trường hoàn toàn tự do và tự phát, và chính phủ luôn can thiệp vào thị trường, dù can thiệp ít hay nhiều. Hơn nữa, không có quốc gia nào có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hoàn toàn (ngay cả nền kinh tế CHDCND Triều Tiên cũng có một phần nhỏ thuộc khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình). Thay vào đó, hầu hết các quốc gia có nền kinh tế hỗn hợp. Tùy từng quốc gia mà có nhiều hay ít yếu tố thị trường và yếu tố can thiệp của nhà nước. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, mặc dù có nền kinh tế thị trường phần lớn là tư nhân, quốc gia này vẫn có Đạo luật Sản xuất Quốc phòng (dpa), cho phép Tổng thống Hoa Kỳ yêu cầu các công ty xem xét vật liệu và thiết bị trước khi chấp nhận và đặt hàng. quốc phòng Cần thiết, Tổng thống Hoa Kỳ có quyền quy định các mặt hàng bị cấm tích trữ hoặc đầu cơ, ngay cả khi nó có thể gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Phương thức làm thủ tục hải quan (tổng hợp và phân tích)

Xem thêm: 17 câu trắc nghiệm Tia hồng ngoại và tia tử ngoại cực hay, có đáp án (phần 1)

Viết một bình luận