Lễ hội Kate của người Chăm có từ khi nào?

Lễ hội Katê Chăm ở vùng Bình Thuận và Ninh Thuận được tổ chức hàng năm vào ngày 1 tháng 7 âm lịch – thường vào cuối tháng 9 và đầu tháng 10 theo lịch Gregory. Đây là lễ hội lớn kéo dài 3 ngày với nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật truyền thống đặc sắc.

Theo truyền thuyết, trong “nhà của Champa”, người gác cổng là chị cả, và Ragley là em út. Người em gái út trong gia đình Chăm sẽ là người bảo vệ vật gia truyền của tổ tiên, nên quần áo của thần Chăm do người Raglai cất giữ.

Lễ hội Kate của người Chăm có từ khi nào? - ảnh 1

Đoàn rước y phục của thần Po Romé lên tháp trong một lễ Kate

Bạn đang xem: Lễ hội ka-tê là gì

Như vậy, ngày đầu tiên của Lễ Katê là ​​ngày Raglai trở lại làng Chăm nơi có đền thờ, mang theo y phục của các vị thần. Lễ diễu hành và lễ đón rước trang phục Chăm được tổ chức hoành tráng, đồng thời diễn ra các hoạt động văn hóa truyền thống.

Ngày thứ hai là ngày đặc biệt nhất của lễ hội, mọi người rước y phục của thần đến các đền, tháp thờ vị thần đó, sau đó bắt đầu rửa tượng thần, mặc quần áo cho tượng thần, v.v. các hoạt động tôn giáo truyền thống. Vào ngày này, những người chăm sóc địa phương và lân cận (không có đền thờ) quay trở lại các đền thờ và bảo tháp, mặc trang phục lễ hội truyền thống đẹp nhất của họ, dâng lễ vật lên các vị thần và cầu nguyện cho họ. đồ tốt.

Ngày thứ ba là phần hội của làng và gia đình. Gia đình quây quần bên nhau để cầu xin tổ tiên và các vong linh phù hộ cho con cháu gặp nhiều may mắn.

Tiếp nối các lễ hội của ngôi đền cổ, Lễ hội Katê thu hút một lượng lớn du khách từ khắp nơi trên thế giới và ngày nay là lễ hội lớn nhất trong năm của những người chăm sóc. Mọi người ngày nay gọi nhầm Ngày của Kate là “Tết của người chăm sóc”, nhưng không phải vậy.

Lễ hội Kate của người Chăm có từ khi nào? - ảnh 2

Lễ đón rước y phục nữ thần Po Nagar từ làng Raglai Phước Hà về làng Chăm Hữu Đức (Nình Thuận)

Lễ hội của người Chăm (tương tự như Tết Nguyên đán của Việt Nam và Trung Quốc) rơi vào ngày đầu tiên của tháng Giêng theo lịch Chăm – khoảng tháng 4 theo lịch Gregory – và được đặt tên là “lễ hội rija nugar” hay lễ hội qua cầu. Cầu mưa, xua đi những điều xui xẻo, đón những điều tốt lành trong năm mới, cầu mưa, chuẩn bị cho vụ nuôi mới.

Ngày của Kate trở nên nổi tiếng khi nào?

Theo nghiên cứu của ahier cleric po Dharma, “kate là một lễ vật cúng dường yang po amâ, ám chỉ đến Shiva, nam thần của Bà La Môn giáo, và có một vị trí quan trọng trong hệ thống tín ngưỡng. Champa được so sánh với các vị thần Vishnu và Brahma. “Hy sinh cho nam thần Poyang A Di Đà không có nghĩa là hy sinh tất cả các nam thần, điều mà một số người thường hiểu lầm”.

Theo tín ngưỡng địa phương, lễ kate là lễ tạ ơn các vị thần đã phù hộ cho người Chăm, mang lại hòa bình và thịnh vượng cho họ.

Lễ hội Kate của người Chăm có từ khi nào? - ảnh 3

Xem thêm: Ý nghĩa ngày Doanh nhân Việt Nam 13 tháng 10 | Cổng TTĐT tỉnh Hà Tĩnh

Đoàn rước y phục thần Po Romé đang tiến lên tháp Po Romé

Tuy nhiên, trên thực tế, kate chỉ là lễ vật dâng lên ba vị thần, đó là po klaung garai và po romé thông qua biểu tượng mukhalinga (thần Shiva với hai khuôn mặt vua) và nữ thần po nagar (thông qua biểu tượng bhagavati, người vợ ướt của thần Po), thông qua các nghi lễ cố định như mặc quần áo, mở cổng tháp, tắm rửa và mặc quần áo cho thần tượng, và dâng lễ vật lên ba vị thần. Trong trường hợp này, người ta cũng đừng quên tưởng nhớ đến các vị thần khác.

Có lẽ trong quá khứ, lễ tế Kate (nữ) cho thần Po inu nagar được tiến hành tại tháp Po Nagar, Nha Trang, nhưng “sau đó đã chuyển đến Panjang vì chiến tranh. bằng kate: nghi lễ của người trông coi ngày nay.

Ông Budamo cũng giải thích rõ, lễ hội là sự kiện văn hóa, bao gồm nghệ thuật, thể thao, vui chơi giải trí … được tổ chức mang tính cộng đồng, thường gắn với các lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo theo phong tục, trong đó có các nghi lễ dành cho người dân cần cù theo tín ngưỡng. hệ thống, nhưng không có kỳ nghỉ.

Trước năm 1965, kate chỉ là một nghi lễ trên chùa tháp, với số lượng ít người sùng đạo có mặt, rất hiếm hoi, không có “khán giả” hiện diện. Bởi theo phong tục, không bắt buộc phải thờ các vị thần trên đền tháp vào ngày lễ Katê.

Lễ hội Kate của người Chăm có từ khi nào? - ảnh 4 Chuyển y phục của thần Po Romé vào trong tháp

Vào năm 1965, ông Dương Tấn Sở lúc đó là quận trưởng quận An Phước đề nghị với các chức sắc Ahier cho phép đưa vào lễ tục Kate phần văn nghệ để đón chào phái đoàn Việt Nam đến viếng thăm dân tộc Chăm nhân dịp Kate. Kể từ đó, lễ tục Kate có thêm phần lễ hội, rồi về sau càng ngày càng phong phú, linh đình và phát triển cho đến hôm nay.

Ngày của Kate bắt đầu khi nào?

Nhiều người hỏi: Con trai tôi đã có Ngày Kate chưa? Tại sao các Tháp Chăm đã bình định không tiếp tục tổ chức Lễ hội Katê… Để trả lời những câu hỏi này, cần tìm hiểu Lễ hội Katê bắt đầu từ khi nào.

Nhìn lại lịch sử, vương quốc Champa đã chịu ảnh hưởng nặng nề của Ấn Độ giáo từ thế kỷ 15. Sau thế kỷ XV, Hồi giáo thâm nhập nhiều hơn vào xã hội Chăm, và cho đến nay, người chăm sóc người Việt Nam bao gồm ba nhánh tôn giáo chính: người chăm sóc ahier (hoặc balamon), ảnh hưởng của Ấn Độ giáo; người chăm sóc awal (hoặc bani), ảnh hưởng Hồi giáo; những người chăm sóc Đạo Hồi (một số ở Ninh Thuận, chủ yếu ở An Giang) tin vào đạo Hồi chính thống.

Lễ hội Kate của người Chăm có từ khi nào? - ảnh 5

Người Chăm bày lễ vật dâng các vị thần ở khuôn viên bên ngoài tháp Po Romé trong một lễ Kate

Ngày lễ Kate, như chúng ta biết bây giờ, là một nhánh lớn hơn của lễ hội.

t.s truong van mon (nhà nghiên cứu văn hóa sakaya) trong cuốn sách Tìm hiểu một số vấn đề của văn hóa Chăm (NXB Tri thức, Hà Nội, 2013) cho rằng lễ Katê xuất hiện vào thế kỷ 15, còn t.s po Dharma cho rằng lễ Katê chỉ là một Vào thế kỷ XVII thời kỳ trị vì của các vị vua vùng Baltic.

Xem thêm: Cách làm bò nhúng ớt Đà Nẵng ăn một lần là nhớ suốt đời

t.s po Dharma trong bài kate: Nghi lễ của những người giữ ngày (đăng trên trang tin champaka.info ngày 20 tháng 3 năm 2012): “… những tư liệu viết trên bia đá (bia ký champa – nv) là thường ghi Nghi thức của vương quốc champa, nhưng không hề nhắc đến kate ”, để chứng minh rằng các vùng phía bắc của champa (vijaya, amaravati, indrapura) không có kate.

Mặt khác, các bia ký Chăm cổ còn lại cho thấy rằng các vị vua Chăm trước thế kỷ 15 thường được phong cho Chúa Shiva bằng tên vua cộng với hậu tố thần, chẳng hạn như thần bhadresvara – thánh địa của con trai thần – là Vua. Badravaman I (vị vua đã xây dựng ngôi đền đầu tiên ở con trai tôi vào thế kỷ thứ 4) với Thần Shiva: badra + dresvara.

Chỉ từ thế kỷ 15, khi được phong thần, tên của các vị vua Chăm mới có tiền tố là “po” (sir / madam / sir), ví dụ như po klaung garai, po romé, po klaung halau, po dam, … tức là sự khác biệt nổi bật giữa thời kỳ Ấn Độ giáo Champa (trước thế kỷ XV) và thời kỳ Champa bản địa (sau thế kỷ XV).

Trong bài báo được trích dẫn, ông po Dharma đã chỉ ra rằng trong lễ hội Katê, mọi người hiến tế cho thần po romé — nghĩa là, vua của po romé đã được phong thần sau khi ông qua đời — để kate không thể là một sản phẩm của một vị vua La Mã trước đây.

Tác giả ninh thuận sakaya cũng đã lưu ý điều này khi chép lại bài viết trong cuốn Lễ hội của người Chăm (NXB Văn hóa dân tộc Hà Nội, 2003) về tục thờ thần po romé trong lễ Katê. Khi po romé thực hiện nghi lễ trên tháp, bao gồm đoạn:

“Nước tràn vào và vỡ ra

po rame quay lại xây đập để trữ nước

Chúa mang nước đến các cánh đồng

Dân làng hoan nghênh nước về làm ruộng … “

Qua phần trên có thể trả lời rằng lễ Katê chỉ xuất hiện ở miền nam Champa cuối thế kỷ XV, và không phải là sản phẩm văn hóa của vương quốc Champa cổ.

Xem thêm: Buy Stop là gì? Hướng dẫn cài đặt và sử dụng lệnh Buy Stop

Viết một bình luận